Kỳ vọng ở doanh nhân dân tộc

Thứ bảy - 13/10/2018 15:45
'Kỳ vọng trong 10 năm tới, lực lượng doanh nhân Việt Nam có sự bùng nổ, phát triển cả về chất và về lượng. Nuôi dưỡng, phát triển những doanh nghiệp (DN), doanh nhân, đặc biệt là những DN, doanh nhân dân tộc thì mới phát triển nền kinh tế một cách mạnh mẽ, độc lập, bền vững' - chia sẻ của TS Nguyễn Đình Cung - Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) với Lao Động trong ngày Doanh nhân Việt Nam (13.10.2004 - 13.10.2018).

Bác Hồ với giới công thương năm 1946. Ảnh: TL

Để có được Ngày Doanh nhân Việt Nam (13.10.2004), cần phải nói thật là các doanh nghiệp (DN) tư nhân Việt Nam phải trải qua “ba chìm bảy nổi chín lênh đênh” với quãng thời gian dài rất gian truân. Kể từ thời điểm được có một ngày tôn vinh đến nay đã gần 15 năm, đội ngũ doanh nhân Việt Nam đã lớn mạnh rất nhiều so với năm 2004, có nhiều doanh nhân đã thành tỉ phú, nhiều DN có nguồn lực, quy mô lớn được xếp hạng trên thế giới, hàng trăm DN được niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Các DN có bước tiến xa so với năm 2004. "Thân phận" của các DN đã trải qua cả một chặng đường dài gian truân gần 30 năm, từ chỗ không được thừa nhận, thậm chí không những không được thừa nhận mà đầu tư kinh doanh tư nhân còn bị cho là “phi pháp”, phải chịu tội hình sự; thì đến năm 1990 khi Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp ra đời đã thừa nhận việc kinh doanh của DN: DN được phép kinh doanh những gì mà cơ quan Nhà nước cho phép.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung.

Thưa ông, mặc dù có Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân, nhưng trong giai đoạn gần 10 năm (1991-1999), DN tư nhân thật sự bị trói buộc và rất dễ bị rủi ro giữa ranh giới “đúng - sai” hết sức mỏng manh, thậm chí ranh giới "đúng - sai" này có khi phụ thuộc vào một công chức thực thi nào đó với những phán quyết, “gật” hoặc “lắc” nhiều khi hết sức cảm tính. Ông chắc vẫn còn nhớ rõ chặng đường này?

- Trong môi trường kinh doanh chưa được quyền tự do, chỉ được kinh doanh những gì mà cơ quan Nhà nước cho phép, mà “cơ quan Nhà nước” nhiều khi được thể hiện bằng một “công chức Nhà nước”, muốn thành lập một DN vào thời điểm đó thì phải xin rất nhiều thủ tục, phải qua rất nhiều “cửa”, chỉ riêng khâu thủ tục cũng mất tối thiểu đến 6 tháng, vào thời điểm đó phải mất đến hàng nghìn USD cho các khoản chi phí… Chính vì vậy mà trong gần 10 năm ròng, tính đến cuối năm 1999 cả nước chỉ có vẻn vẹn 32.000 DN còn tồn tại và hoạt động.

Thưa ông, đến năm 2000 bắt đầu có Luật Doanh nghiệp mới thay thế cho Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân. Cố Thủ tướng Phan Văn Khải có nói, "Luật Doanh nghiệp đã tạo ra một luồng sinh khí mới cho môi trường kinh doanh Việt Nam". Từ đó đến nay điều kiện hoạt động, kinh doanh của DN, doanh nhân Việt Nam không ngừng được cải thiện và ngày càng ưu việt hơn, trong đó quyền tự do kinh doanh của DN đúng là đã được nới rộng…

- Luật Doanh nghiệp Việt Nam thay đổi căn bản cách tiếp cận, từ chỗ DN chỉ được kinh doanh những gì mà cơ quan Nhà nước cho phép sang DN được phép kinh doanh tất cả những gì mà pháp luật không cấm. Song song với đó, các thủ tục thành lập DN đã được đơn giản hóa. Có thể nói đây là cả sự thay đổi lớn, tạo sự khác biệt so với trước. Chính vì vậy mà những năm sau đó, từ năm 2000 số DN không ngừng được tăng lên và trong các năm từ 2001-2003 có thể nói là có sự “bùng nổ” của DN tư nhân Việt Nam. Khi nhìn thấy vai trò tiềm năng của DN tư nhân thì cố Thủ tướng Phan Văn Khải lúc bấy giờ đã quyết định lấy ngày 13.10 là ngày Doanh nhân Việt Nam.

Đến năm 2014, Luật Doanh nghiệp sửa đổi trong đó có điểm sửa đổi lớn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng: DN được quyền kinh doanh tất cả những gì mà Luật không cấm. Cần phải nhìn thấy rằng, năm 2000, DN được kinh doanh tất cả những gì mà PHÁP LUẬT không cấm, thì đến năm 2014, DN được kinh doanh tất cả những gì mà LUẬT không cấm.

Ở khía cạnh pháp luật, thì quy định tại thông tư cũng có thể cấm, thậm chí quyết định của một ông chủ tịch UBND cũng có thể cấm. Nhưng đến năm 2014, những gì luật không cấm thì DN được quyền kinh doanh. Như vậy, xuyên suốt cả một quá trình chúng ta nhìn thấy quyền tự do kinh doanh và sự an toàn của DN trong kinh doanh liên tục được mở rộng và củng cố.

Với đội ngũ trên nửa triệu DN tư nhân đang hoạt động, xét về việc đóng góp tài sản, vốn, lao động, doanh thu, thuế nộp Ngân sách… thì khu vực DN tư nhân chiếm tỉ trọng lớn nhất, hơn cả so với khối DN Nhà nước và DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), cùng với đó là đội ngũ gần 10 triệu lao động làm việc trong DN tư nhân. Tuy nhiên, như một số ý kiến đã nói, số lượng DN tư nhân “đông mà chưa mạnh”, điều gì đã cản trở DN Việt Nam lớn mạnh, thưa ông?

- Nhìn vào quá trình liên tục phát triển, không phủ nhận được DN tư nhân đã phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, quy mô và mức đóng góp cho xã hội. DN tư nhân có trên 10 triệu lao động, trong khi DN nước ngoài có khoảng 5 triệu và DN Nhà nước chỉ có khoảng 2 triệu lao động. Tuy nhiên, nhìn vào tiềm năng của DN tư nhân và so sánh với yêu cầu thực tế đòi hỏi phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn hiện tại, thì có thể nói rằng, DN tư nhân của Việt Nam còn quá nhỏ bé, chưa hoạt động và chưa được quản lý đúng tầm. Điều này có rất nhiều nguyên nhân, cả về môi trường, cả về thể chế luật lệ và cả về bản thân nội tại của các DN. Về môi trường kinh doanh, dù quyền tự do kinh doanh đã được thừa nhận và phát triển; dù an toàn kinh doanh đã được cải thiện, tuy nhiên rủi ro mà DN gặp phải trong hoạt động đầu tư, kinh doanh vẫn còn quá lớn và khá phổ biến. Sự bất định, thiếu rõ ràng, thiếu cụ thể, “không dự đoán được”, sự tùy ý tùy tiện của các công chức và các cơ quan khi giải thích, thực thi… đã làm cho hoạt động đầu tư kinh doanh của DN khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam trở nên rất rủi ro. Khi cảm thấy không an toàn, các doanh nhân không an tâm để đầu tư với quy mô lớn, không dám đầu tư dài hạn. Điều này đã dẫn đến những điểm yếu rất khó khắc phục của các DN Việt Nam nói chung.

Nhiều sản phẩm của các DN tư nhân được xuất khẩu ra thế giới. Ảnh: H.QUỲNH

Ông có thể chỉ rõ cụ thể hơn những điểm yếu và các điểm yếu này đã đặt DN Việt Nam trước những vấn đề gì?

- Điểm yếu lớn nhất của DN tư nhân Việt Nam là tính kinh doanh thiên về không chính thức, không minh bạch, vì vậy thì nhiều chuẩn mực không được áp dụng.

Khi kinh doanh với quy mô nhỏ, không đầu tư lớn, không đầu tư dài hạn, DN không chú ý đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, không áp dụng những tiêu chuẩn quản trị phổ biến toàn cầu. Chính vì vậy khi hội nhập, khi ra thế giới DN Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn: Hoặc là bị chèn ép, hoặc là không tham gia được vào các chuỗi giá trị toàn cầu.

Khi không chú ý đầu tư lớn, dài hạn thì không nghĩ đến việc xây dựng nền tảng phát triển, trong đó có vấn đề đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; không áp dụng những chuẩn mực quản lý phổ biến toàn cầu.Vì vậy, các DN nước ngoài đầu tư vào Việt Nam nếu cần sử dụng các DN phụ trợ của Việt Nam thì không tìm được những DN đáp ứng đủ các tiêu chuẩn của họ. DN tư nhân của Việt Nam không tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu, không tận dụng được những tác động lan tỏa của các DN đầu tư nước ngoài. Đây có một phần do sự yếu kém trong nội tại của các DN.

Rõ ràng là với sự yếu kém hiện nay, nên tuy đã phát triển vượt bậc so với trước nhưng DN tư nhân Việt Nam vẫn nhỏ, vẫn yếu cả về năng lực đầu tư (tiềm lực kinh tế - PV), năng lực quản lý, năng lực ứng dụng khoa học công nghệ, hạn chế về tầm nhìn, chiến lược phát triển… Do đó, phát triển đội ngũ doanh nhân, đặc biệt là doanh nhân dân tộc là yêu cầu đặt ra hết sức cấp bách.

Đóng góp của kinh tế tư nhân vào kinh tế đất nước. (Nguồn: Bộ KHĐT 2017)

Một đất nước không có đội ngũ doanh nhân giỏi, không có năng lực hội nhập và hội nhập thành công, đất nước đó sẽ thất bại trong phát triển kinh tế. Để xây dựng được đội ngũ doanh nhân xứng tầm, cần ưu tiên những điểm nào trước, thưa ông?

- Việc cấp bách là phải cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh. Cải cách thể chế cần tập trung vào 2 điểm: Thứ nhất là phải cải cách, thay đổi, thiết lập cho được thị trường các nhân tố sản xuất như: Thị trường về quyền sử dụng đất, thị trường vốn, thị trường khoa học công nghệ, thị trường lao động… để các thị trường này đóng vai trò chủ yếu, thay thế sự can thiệp hành chính và phân bố theo lối hành chính chủ quan “xin-cho”.

Điều thứ 2 không kém phần quan trọng là phải đảm bảo được an toàn trong hoạt động đầu tư kinh doanh của DN để môi trường kinh doanh ít rủi ro và chi phí thấp. Muốn có được điều này thì không phải chỉ thay đổi luật lệ, mà phải thay đổi được thái độ và cách thức làm việc của các công chức, cơ quan công quyền; để các công chức thực thi không được và không dám tùy ý, tùy tiện trong việc giải thích, áp dụng và thực thi luật lệ, luật pháp. Hiện nay, sự tùy ý, tùy tiện của công chức đã làm cho DN gặp đầy rủi ro bởi thái độ làm việc coi DN là đối tượng để kiểm soát chứ không phải là đối tác để phát triển; thậm chí có công chức còn coi DN là đối tượng để hạch sách, quấy nhiễu chứ không phải là đối tượng để giúp đỡ, hỗ trợ.

Bên cạnh đó, các DN cũng phải nhìn vào xu thế toàn cầu để dù nhỏ cũng phải vươn lên, luôn nhận thức mình phải kinh doanh theo lĩnh vực toàn cầu, hướng đến áp dụng khoa học công nghệ mạnh mẽ hơn nữa và nhìn thấy cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 này tạo ra rất nhiều cơ hội cho những người mới khởi nghiệp, tạo cơ hội để những DN nhỏ và vừa, những DN còn yếu kém chưa cạnh tranh được toàn cầu cũng có cơ hội để nhìn thấy và thay đổi và bắt kịp.

Với sự thay đổi như vậy, lực lượng doanh nhân Việt Nam trong 10 năm tới kỳ vọng có sự bùng nổ, phát triển cả về chất và về lượng. Nuôi dưỡng và phát triển những DN, doanh nhân, đặc biệt là những DN, doanh nhân dân tộc thì mới phát triển nền kinh tế một cách mạnh mẽ, độc lập, bền vững.

- Xin cảm ơn ông!

Khánh Vũ (thực hiện)

Nguồn tin: www.baomoi.com

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây